Giới thiệuNEX-C3 là chiếc camera thuộc thế hệ 2 của Sony, nối tiếp
NEX-3 14 MP và
NEX-5 của giữa năm 2010. Nếu 2 mẫu đầu tiên cho thấy sự cam kết của Sony trong việc cung cấp các tính năng APS-C trong một cấu trúc nhỏ gọn, quan điểm này lại được tái khẳng định với sự xuất hiện của chiếc máy
C3 còn nhỏ gọn hơn.
Bài review dựa trên sản phẩm NEX-C3 với firmware 01 Sony là một trong số những công ty mà đạt được hầu hết những gặt hái của mình thông qua các camera mirrorless (máy ảnh không gương lật). Việc xâm nhập vào thị trường DSLR truyền thống còn khá khiêm tốn nếu so với mục tiêu của công ty, và Sony vẫn có một cơ hội tốt để kết hợp bí quyết của mình trong các máy ảnh compact Cyber-shot với phương pháp ống kính hoán đổi mà nó học tập được khi mua lại Konica Minolta năm 2006.
NEX-C3, thậm chí hơn cả những tiền bối của nó, khẳng định quyết tâm của công ty trong việc đem đến xu hướng của máy ảnh compact này với chất lượng cảm biến ảnh cao. Mặc dù có một cảm biến lớn hơn, chiếc
C3 thách thức các mẫu Micro Four Thirds nhỏ hơn về mặt kích thước, và hạn chế duy nhất đối với tính nhỏ gọn của nó là chiếc zoom kit.
Một tin tốt là bên cạnh kích thước được tinh giảm,
NEX-C3 còn có một cảm biến 16 MP. Nó không hoàn toàn giống như cảm biến được dùng cho các hiệu ứng tuyệt vời trong
Sony A55, nhưng đây là một phiên bản được thiết kế lại để đem đến khả năng sử dụng năng lượng được cải tiến, cũng như mức độ nhiễu ảnh thấp hơn và các đặc tính nhiệt độ được cải thiện.
Tuy nhiên ngoài cảm biến mới ra thì những sự thay đổi khác đều khiêm tốn. Có vài sự đổi mới trong giao diện người dùng, trong đó sự sửa đổi rõ rệt nhất là chế độ chụp đơn giản kiểu Olympus. Có một lựa chọn cho nhiều tùy biến người dùng hơn trong nhiều chế độ người dùng tự điều khiển (user-controlled mode). Trong
NEX-C3, Sony đã bỏ qua việc ký hiệu các nút bên trái và bên phải trên control dial, vì chúng giờ đây thuộc về tùy chọn của người dùng. Chiếc
C3 cũng bao gồm một lựa chọn các tính năng lọc xử lý ảnh vui.
Sony đã công bố chiến lược mở rộng phạm vi NEX theo 2 hướng: hướng “dễ sử dụng” cho những phiên bản PointNShot, và hướng cung cấp thao tác điều khiển bằng tay tuyệt vời hơn dành cho những tín đồ nhiếp ảnh, và không tốn nhiều công sức để biết chiếc
C3 thuộc hướng nào. Cũng như Panasonic đã quyết định tiêu giảm và đơn giản hóa các camera G-series và GF-series của mình, Sony đang cố gắng thu hút khách hàng, những người muốn chất lượng DSLR nhưng không muốn phải xoay đi xoay lại chiếc máy ảnh, và những người thích chụp những bức hình đẹp mắt mà không muốn phải tìm hiểu về ý nghĩa của số tiêu cự.
Đặc điểm kỹ thuật của Sony NEX-C3 - Cảm biến 16.2 MP CMOS được sửa lại
- ISO 200-12800
- Giao diện người dùng hướng tới điều khiển sáng tạo
- Các lựa chọn xử lý hiệu ứng ảnh
- Quay phim 720p30 HD định dạng MPEG-4
NEX-3 (trái) không quá to lớn, nhưng thật ấn tượng khi thấy Sony đã tạo ra chiếc C3 còn nhỏ hơn - nó thậm chí nhỏ hơn một chút so với NEX-5. So sánh với Panasonic DMC-GF3 và Olympus PEN E-PL3
Chiếc
Sony Alpha NEX-C3 tiếp tục con đường của Sony trong các camera ống kính hoán đổi, mang một cảm biến APS-C trong một cấu trúc nhỏ gọn. Đổi thủ tiềm tàng nhất của nó vừa mới được tung ra, chiếc
Panasonic Lumix DMC-GF3 và chiếc
Olympus PEN E-PL3, cả hai đều dựa trên bộ khung Micro 4/3. Cho dù mang một cảm biến lớn hơn cả hai đối thủ, Sony thành công trong việc tạo ra một cấu trúc tương đương với chiếc
GF3 thon thả.

Từ phía sau, chúng ta dễ dàng nhận thấy phân khúc thị trường mà
NEX-C3 hướng tới. Cách bố trí các phím điều khiển khá gọn gàng, với một ‘control dial’ duy nhất và một cặp phím mềm. Dòng Panasonic GF series đang ngày càng trở nên đơn giản hơn, và gần đạt đến thiết kế tối giản của chiếc
C3, đồng thời cũng là đối thủ tiềm năng nhất của
NEX-C3. Cách bố trí của chiếc
E-PL3 lại hướng nhiều hơn tới những người dùng hâm mộ, đem đến cho họ các thao tác điều khiển tay có thể tùy biến, cũng như một ‘mode dial’ bên ngoài. Trong khi đó chiếc Panasonic GF2 có một màn hình cảm ứng, cho phép truy cập vào các lựa chọn bổ sung như lấy nét điểm đơn, các tính năng chụp và xem lại.
Điểm phân biệt lớn nhất nằm ở mặt trên của những chiếc camera này là cách thức mà các nhà sản xuất kết hợp một đèn flash lên những máy ảnh nhỏ nhắn này. Giống như
E-PL3, chiếc
NEX-C3 không có đèn flash tích hợp, nhưng thay vào đó là một chiếc đèn flash gắn ngoài. Chiếc
GF3 lại có một đèn flash “pop-up”, nhưng điều đó lại cản trở bạn nâng cấp lên một chiếc đèn flash mạnh mẽ hơn.

Không cái nào trong số những chiếc máy ảnh này là to, nhưng
NEX-C3 vẫn giữ danh hiệu của dòng NEX Sony là những chiếc camera ống kính hoán đổi nhỏ gọn nhất. Sự xuất hiện của
Pentax Q báo hiệu rằng dòng NEX của Sony không còn là những chiếc máy ảnh bé nhất trên thị trường, nhưng nếu tính tới kích thước các cảm biến APS-C của họ, chúng ta sẽ phải công nhận thành quả của Sony trong việc tối giản hóa thật ấn tượng.

Nếu bạn cảm thấy mới mẻ với chụp ảnh kỹ thuật số, bạn sẽ muốn đọc
Bảng thuật ngữ chụp ảnh kỹ thuật số trước khi nghiên cứu bài viết này (nó sẽ giúp bạn hiểu một vài thuật ngữ được dùng).
Kết luận / Khuyến nghị / Đánh giá được dựa trên quan điểm của người phê bình, bạn cần đọc toàn bộ bài review trước khi đưa ra kết luận của riêng mình.
Những bức ảnh nào có thể xem được với kích thước lớn đều có một biểu tượng kính phóng đại nhỏ trên góc dưới cùng bên phải, chỉ cần click lên bức ảnh trình duyệt sẽ hiển thị một bức ảnh lớn hơn trong cửa sổ mới.
Để di chuyển qua bài viết, chỉ cần sử dụng các nút ‘next / previous’; để “nhảy” đến một phần nào đó, bạn chỉ cần lựa chọn phần đó trong thanh kéo xuống, hoặc chọn từ thanh duyệt ở trên cùng.
DPReview hiệu chuẩn màn hình bằng Color Vision OptiCal ở cấp độ gamma thông thường 2.2 trên PC (được chấp nhận khá tốt), điều đó có nghĩa trên màn hình chúng ta có thể phân biệt sự khác biệt giữa toàn bộ khối thang độ xám bên dưới. Chúng tôi đề nghị để xem hầu hết bài review này, bạn cần phải phân biệt được sự khác biệt (ít nhất) giữa X, Y và Z, và A, B và C.
